Đọc bốn lần, nhớ ít hơn
Năm 2006, hai nhà tâm lý học Henry Roediger và Jeffrey Karpicke cho sinh viên đọc một đoạn văn. Một nhóm đọc bốn lần. Nhóm kia đọc một lần, rồi ba lần tự viết ra những gì mình còn nhớ, không được nhìn lại. Hỏi ai tin mình sẽ còn nhớ sau một tuần, nhóm đọc bốn lần tự tin hơn. Một tuần sau, họ nhớ được 40%. Nhóm kia nhớ 61%.
Những người đọc lại không hề nói dối. Họ thật lòng thấy mình đã thuộc bài, vì mỗi lần đọc, trang sách lại trơn tru hơn một chút, và bộ óc cứ thế lấy cái trơn tru ấy làm bằng chứng cho cái hiểu. Ai từng ôn thi bằng cách đọc đi đọc lại vở ghi đều quen cảm giác này. Có thể gọi nó là ảo giác trôi chảy, và nó có từ rất lâu trước khi có AI.
Bây giờ, hãy đặt vào tay người học một cỗ máy trả lời câu nào cũng trơn tru, lúc nào cũng sẵn sàng, và chẳng bao giờ bắt ta gấp sách lại. Chuyện ấy đã ở ngay trong nhà: ở nhà một người trong chúng tôi, đứa con học tiếng Anh trên iPad, có hôm trên tivi thông minh. Học như thế, ta giỏi lên hay kém đi? Nói gọn thì còn tùy ai là người phải động não. Còn muốn hiểu vì sao, hãy bắt đầu từ một trường trung học ở Thổ Nhĩ Kỳ.
Điểm luyện tập lên, điểm thi xuống
Mùa thu năm 2023, gần một nghìn học sinh lớp 9 đến lớp 11 của một trường ở Thổ Nhĩ Kỳ học toán qua bốn buổi, mỗi buổi 90 phút. Các lớp được chia ngẫu nhiên làm ba nhóm. Nhóm thứ nhất luyện tập như thường, không có AI. Nhóm thứ hai có một công cụ giống ChatGPT. Nhóm thứ ba có một bản “gia sư”: vẫn mô hình AI ấy, nhưng được nạp sẵn lời giải của giáo viên và được lệnh chỉ gợi ý từng bước, không bao giờ đưa trọn lời giải.
Trong giờ luyện tập, nhóm có công cụ giống ChatGPT đạt điểm cao hơn nhóm không có AI 48%. Nhóm có gia sư cao hơn 127%. Rồi tới bài thi, không ai được dùng máy. Nhóm gia sư làm ngang nhóm không có AI. Nhóm kia thấp hơn 17%.
Đằng sau các con số là vài chi tiết đáng nhớ hơn. Phần lớn học sinh dùng công cụ giống ChatGPT chỉ để lấy lời giải rồi chép lại. Trong khi đó, khi các tác giả tự đem 57 bài luyện tập ra hỏi thẳng đáp án, cỗ máy chỉ đúng trung bình 51% số lần. Nghĩa là các em đã chép từ một nguồn sai gần một nửa. Và điều đáng lo nhất: các em thi kém hơn bạn mình mà không hề thấy mình làm bài kém hơn hay học được ít hơn.
Nếu chỉ có thí nghiệm này, kết luận sẽ rất gọn: AI làm người học kém đi. Nhưng cũng mùa thu năm ấy, tại Đại học Harvard, 194 sinh viên vật lý học hai bài theo hai cách. Một bài họ học ở nhà với một AI gia sư. Bài kia họ học trong một lớp học kiểu tích cực, nơi sinh viên phải tự giải bài chứ không ngồi nghe giảng. Trước bài học, điểm của người đứng giữa nhóm là 2,75. Sau buổi học trên lớp, con số ấy là 3,5. Sau bài học với AI, nó là 4,5. Và 70% sinh viên học với AI xong trong chưa tới 60 phút, tức là chưa hết thời gian của một buổi học trên lớp.
Gia sư ở Harvard không phải một chatbot để nguyên. Giảng viên soạn sẵn lời giải chi tiết cho máy để nó ít sai hơn, và máy dẫn sinh viên đi lần lượt qua từng phần của từng bài.
Ở Nigeria, học sinh năm đầu trung học phổ thông học sáu tuần sau giờ học với một chatbot, và kết quả học tốt lên rõ. Đây mới là bản thảo làm việc của Ngân hàng Thế giới, chưa qua bình duyệt của một tạp chí.
Đặt ba thí nghiệm cạnh nhau, ta sẽ thấy chúng không hề mâu thuẫn. Chỗ khác nhau nằm ở việc ai là người phải nghĩ. Khi máy nghĩ hộ, điểm lên ngay nhưng kiến thức không ở lại. Khi máy buộc người học tự nghĩ trước rồi mới gợi ý, cái hại biến mất, và có nơi còn thấy cả lợi.
Vì sao ta không tự thấy
Điều lạ nhất ở Thổ Nhĩ Kỳ là các em học kém đi mà không hay biết. Học kém đi đã đáng lo, nhưng học kém đi mà không biết thì còn đáng lo hơn, vì người không biết sẽ chẳng có lý do gì để đổi cách học.
Tâm lý học đã thấy chuyện này từ trước khi có AI. Năm 2015, Nicholas Soderstrom và Robert Bjork điểm lại các nghiên cứu về việc học và tách hai thứ ta hay gộp làm một: làm được và học được. Làm được là kết quả ngay lúc luyện. Học được là thứ còn lại về lâu dài và mang sang chỗ khác dùng được. Họ kết luận rằng nhìn vào cái thứ nhất mà đoán cái thứ hai thì rất dễ sai. Ngược lại, những cách luyện khiến ta chậm hơn, sai nhiều hơn lại thường để lại nhiều hơn về sau. Họ gọi đó là những cái khó có ích.
Thí nghiệm đọc bốn lần ở đầu bài là một ví dụ. Một ví dụ khác cũng đến từ Harvard, năm 2019. 149 sinh viên vật lý học cùng một nội dung theo hai cách: nghe một bài giảng trôi chảy, hoặc tự xoay xở giải bài trước khi được chỉ. Sau buổi tự giải, họ làm bài kiểm tra tốt hơn. Cũng sau buổi ấy, họ lại tin rằng mình học được ít hơn.
Một bài giảng hay cho ta cảm giác đã hiểu, còn sự vất vả lại khiến ta tưởng mình kém. Cả hai cảm giác ấy đều chỉ sai đường.
Câu trả lời của AI có lẽ là bài giảng trôi chảy nhất từng có: đúng câu ta hỏi, đúng lúc ta cần, không vấp chỗ nào. Nó gỡ khỏi việc học đúng phần khó chịu, cũng là phần để lại kiến thức. Nó gỡ luôn cả chuông báo động: khi mọi thứ đều trơn tru, ta chẳng còn dịp nào để nhận ra mình chưa hiểu.
Một nhóm nghiên cứu đặt tên cho mối nguy ấy là “lười siêu nhận thức”. Siêu nhận thức là việc tự biết mình biết tới đâu. Trong thí nghiệm của họ với 117 sinh viên, nhóm viết luận cùng ChatGPT có điểm bài luận tăng nhiều nhất. Kiến thức thu được thì không hơn các nhóm khác.
Người lớn cũng không khác. Trong hai nghiên cứu với 246 và 452 người giải câu hỏi lập luận cùng AI, người tham gia làm bài tốt lên, và tự chấm mình còn cao hơn cả mức đã tốt lên ấy.
Vậy nên AI không lấy mất trí khôn của ai cả. Nó lấy mất cái cảm giác lấn cấn khi còn chưa hiểu, thứ vẫn thường bắt ta ngồi lại mà học thêm.
Lời than 2.400 năm tuổi
Nỗi lo này cũ hơn ta tưởng nhiều. Khoảng 2.400 năm trước, trong đối thoại Phaedrus, Plato để Socrates kể chuyện thần Theuth đem phát minh mới của mình là chữ viết tới khoe với vua Thamus. Nhà vua không chịu:
“Ngươi đã chế ra một phương thuốc cho sự nhắc nhớ, không phải cho trí nhớ. Ngươi trao cho học trò vẻ ngoài của sự khôn ngoan, không phải sự khôn ngoan thật.”
Ta đọc được lời chê đó là nhờ nó được viết ra. Nhưng ông vua gọi đúng tên căn bệnh. Bệnh không phải là không biết. Bệnh là không biết rằng mình không biết.
Trong một tác phẩm khác của Plato, Socrates nói điều ấy về chính mình. Sau khi trò chuyện với một người nổi tiếng khôn ngoan, Socrates rút ra rằng ông hơn người kia đúng một điểm nhỏ: “Tôi không biết, và cũng không nghĩ rằng mình biết.”
Nhưng chữ viết cũng có người bênh. Năm 1998, hai triết gia Andy Clark và David Chalmers kể chuyện bà Inga và ông Otto, cùng muốn tới một bảo tàng. Inga nhớ ra địa chỉ. Otto mắc bệnh Alzheimer nên tra cuốn sổ ông luôn mang theo, nơi ông ghi mọi điều cần nhớ. Hai tác giả lập luận: cuốn sổ làm cho Otto đúng việc trí nhớ làm cho Inga, nó luôn ở bên ông và được ông tin ngay, vậy nó là một phần tâm trí của ông.
Thật ra ta vẫn gửi bớt việc nghĩ ra ngoài mỗi ngày, chẳng hạn mỗi lần đặt lời nhắc trên điện thoại. Tâm lý học gọi đó là dỡ tải nhận thức: dùng một hành động bên ngoài để bộ óc đỡ phải làm.
Vậy ai đúng, ông vua hay hai triết gia? Có lẽ cả hai, và chỗ phân xử nằm ngay trong cuốn sổ. Otto chép vào sổ những điều ông đã biết và đã tự mình xác nhận. Còn người học xin AI đáp án là đang gửi ra ngoài điều mình chưa từng biết. Gửi cái đã hiểu ra ngoài thì tâm trí rộng thêm. Gửi cái chưa hiểu ra ngoài thì trong đầu chỉ còn chỗ trống.
Ranh giới ấy mới là một cách nhìn, chưa có thí nghiệm nào kiểm chứng. Nhưng nó cho ta một câu để tự hỏi trước khi gõ phím: việc mình sắp nhờ máy làm, mình đã từng tự làm được chưa?
Cái được, cái mất và cái chưa biết
Lợi ích đã có bằng chứng. Một AI gia sư được dựng công phu, có lời giải soạn sẵn và dẫn người học đi từng phần, đã giúp sinh viên Harvard học được nhiều hơn trong ít thời gian hơn một lớp học tốt. Kết quả ở Nigeria cùng hướng, tuy còn là bản thảo.
Rủi ro đã có bằng chứng. Một chatbot để nguyên, dùng để xin đáp án, làm học sinh thi kém đi 17% mà không tự biết. Bài làm đẹp hơn không có nghĩa là người làm hiểu hơn.
Điều chưa ai biết. Chúng tôi chưa tìm thấy nghiên cứu nào theo dõi người học qua nhiều năm; các thí nghiệm kể trên chỉ kéo dài từ vài buổi tới sáu tuần. Chuyện gì xảy ra trong bộ não cũng chưa rõ: một nghiên cứu đo điện não của 54 người viết luận được nhắc tới rất nhiều, nhưng nó chưa qua bình duyệt.
Ngay nền bằng chứng cũng chưa vững. Bài tổng hợp 51 nghiên cứu, từng kết luận ChatGPT giúp học tốt hơn rõ rệt, đã bị tạp chí rút lại ngày 22 tháng 4 năm 2026. Một nhóm nhà nghiên cứu giáo dục soát lại các thí nghiệm về ChatGPT trong lớp học và cho rằng phần lớn chưa đủ chặt để nói kết quả là do ChatGPT.
Ba việc làm được ngay
Cả ba đều xoay quanh một nguyên tắc: phần phải nghĩ, hãy giữ lại cho mình.
- Tự làm trước, hỏi sau. Viết ra lời giải của mình, dù sai, rồi mới mở máy. Phần vất vả ấy chính là phần để lại kiến thức.
- Xin gợi ý, đừng xin đáp án. Bản gia sư ở Thổ Nhĩ Kỳ, bản không gây hại, bị cấm đưa trọn lời giải. Bạn có thể tự đặt luật ấy cho chatbot của mình bằng một câu, chẳng hạn: “Đừng đưa đáp án. Mỗi lần chỉ gợi ý một bước, rồi hỏi lại tôi.” Câu này phỏng theo cách các nhà nghiên cứu dựng gia sư của họ; chưa ai thử riêng nó trong thí nghiệm.
- Gấp máy lại và tự kiểm. Học xong, đóng máy, viết ra những gì còn nhớ. Đó là việc nhóm nhớ 61% đã làm. Còn cảm giác “hiểu rồi” thì đừng vội tin, vì đó là cảm giác dễ đánh lừa ta nhất.
Những điều bài này không thể kết luận
- Tác động về lâu dài. Các thí nghiệm trong bài kéo dài từ vài buổi tới sáu tuần.
- Trẻ nhỏ. Người tham gia là học sinh trung học, sinh viên và người lớn. Bài không có dữ liệu về học sinh tiểu học.
- AI của hôm nay. Hai thí nghiệm chính làm từ năm 2023, với mô hình AI cũ hơn hiện nay.
- Người học ở Việt Nam. Bài không có dữ liệu nào về Việt Nam.
- Những môn khác. Các thí nghiệm làm với toán, vật lý, tiếng Anh và viết luận.
- Câu “đã hiểu thì gửi được, chưa hiểu thì đừng gửi”. Đó là lập luận của bài, chưa ai kiểm bằng thí nghiệm.
- Độ vững của chính các nghiên cứu. Một bài tổng hợp lớn đã bị rút lại, và giới nghiên cứu đang phê bình chất lượng các thí nghiệm trong lĩnh vực này.